Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu


Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu – Bài làm 1

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhân dân ta đã trải qua biết bao nhiêu gian khổ khi ấy không thể nào có những người thân trong gia đình mình chia sẻ giúp đỡ được mà khi ấy chỉ còn lại những tình cảm của những người lính với nhau. Tình cảm ấy chúng ta thường gọi là đồng chí. Văn học khi ấy cũng thực hiện nhiệm vụ của mình ca ngợi những tình cảm tốt đẹp của nhân dân ta. Và nhà thơ Chính Hữu đã dùng ngòi bút của mình viết lên những dòng thơ đầy cảm xúc về tình đồng chí trong bài thơ cùng tên.

Sáu câu thơ đầu nói về tình cảm đồng chí đồng đội cũng như quê hương của họ. Những người lính ấy không xuất phát từ những thành thị mà xuất phát từ nông thôn:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua 
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá 
Anh với tôi đôi người xa lạ 
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. 
Súng bên súng, đầu sát bên đầu 
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”

Quê hương của những người lính nông dân ấy chính là những miền quê với những cánh đồng chua và những đất nghèo sỏi đá. Nhà thơ đã chọn cách bắt đầu bài thơ bằng hình ảnh quê hương ấy để thấy được thân phận của họ. Nghệ thuật sóng đôi khiến cho quê hương của “anh” và của “tôi” trở nên nghèo đói như nhau. Và những con người nông dân ấy không hề quen biết nhau thế nhưng kháng chiến đi lính họ gặp nhau, sát cánh bên nhau từ chiến trường cho đến khi nghỉ ngơi. Và cứ thế họ trở thành những người tri kỉ của nhau.

Đó chính là tình đồng chí, đêm rét chung chăn, chiến đấu kề vai sát cánh bên nhau và thành tình đồng chí:

“Đồng chí!”

Câu thơ như tách bài thơ ra làm hai để quy nạp cho phần thơ đầu và diễn dịch cho những câu thơ còn lại. Một câu thơ mà chỉ có hai từ, điều đó thể hiện sự ca ngợi, sự định nghĩa tình cảm thiêng liêng ấy. Không cùng chung cha mẹ không cùng một quê hương nhưng họ gắn bó với nhau trong những năm tháng gian khố ấy họ lại chia ngọt se bùi cho nhau và trở thành những đôi tri kỉ.

Những câu thơ tiếp theo như thể hiện thêm khẳng định thêm tình đồng chí gắn bó keo sơn:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày 
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay 
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. 
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, 
Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. 
Áo anh rách vai 
Quần tôi có vài mảnh vá 
Miệng cười buốt giá 
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”

Những người lính ấy đã phải trải qua biết bao nhiêu là khó khăn vât vả, họ rời bỏ ruộng nương để cho bạn thân cày cấy hộ. Họ “mặc kệ” gian nhà gió lung lay kia, động từ ấy không phải là những người lính bỏ nhà mà quyết tâm ra đi theo tiếng gọi của lòng yêu nước. Thế rồi hình ảnh giếng nước gốc đa như được nhân hóa có suy nghĩ có nỗi nhớ và thương đến người chiến sĩ. Hình ảnh ấy cũng giống như một ẩn dụ để nói đến những người mẹ người vợ ngày đêm nhớ thương con mình. Và trong hoàn cảnh chiến tranh ấy có biết bao nhiêu thiếu thốn về vật chất, áo anh thì rách vai, quần tôi thì có vài mảnh vá, có những cớn sốt rét rừng làm cho họ khổ sở. Thế nhưng họ vẫn cười trong sự thiếu thốn buốt giá ấy. Chân thì không giầy thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Không có gia đình ở bên thì họ chính là những người trao cho nhau hơi ấm tình thương.

Và chính bằng tình thương yêu ấy dù cho sương có buốt giá đến đâu, dù cho kẻ địch kia có gian ác tàn bạo đến đâu thì họ vẫn đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới. Hình ảnh đầu súng trăng treo là một hình ảnh nghệ thuật rất đẹp. Nó thể hiện ngọn súng kia như chĩa lên cao khiến cho mảnh trăng kia như đang được treo lên đầu ngọn súng ấy vậy. Không những thế mà ánh trăng kia còn là chính những người chiến sĩ ấy, họ như ánh trăng sáng soi trong đêm tối ấy. Vẫn đứng đó để chờ giặc tới.

“Đêm nay rừng hoang sương muối 
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới 
Đầu súng trăng treo.”

Như vậy qua đây ta hiểu thêm về tình đồng chí của những người nông dân áo vải. Họ không chỉ biết cày cấy tăng gia sản xuất mà họ còn biết đánh giặc và biết yêu thương lấy nhau. Dù cho cuộc sống có thiếu thốn nhưng họ vẫn vui vẻ lạc quan cười trong sự buốt giá ấy. Vì trong họ ngoài tình yêu quê hương tổ quốc ra thì họ còn có một tình cảm nồng ấm xua tan mọi khó khăn ấy. Đó chính là tình đồng chí.

Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu – Bài làm 2

Cuộc kháng chiên chống Pháp trường kì là điểm hội tụ của những người chiến sĩ có cùng nhiệt huyết chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Ở đó có hàng triệu trái tim yêu nước đã giã từ bờ tre, giếng nước của quê nhà ra đi đánh giặc. Cuộc sống vất vả, gian nan trong chiến đấu đã gắn kết họ lại với nhau trong tình đồng chí. Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đã ghi lại tình cảm cao quí ấy của những người chiến sĩ một cách sâu sắc.

Lời thơ thật mộc mạc, tự nhiên như những lời tâm sự. Những thành ngữ đi vào trong thơ làm cho ta cảm giác như chính cuộc sống hàng ngày của người lính được hiện lên trước mắt ta vậy. Họ đến từ những miền quê khác nhau, người thì từ đồng bằng ven biển lên, kẻ thì từ vùng trung du xuống, nhưng họ đã dễ dàng gần gũi, thông cảm với nhau bởi cùng ra đi từ những vùng quê nghèo khó, vất vả:

Quê hương anh nước mặn đồng chua 
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá 
Anh với tôi đôi người xa lạ 
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau 
Súng bên súng đầu sát bên đầu 
Đêm rét chung chăn thành đôi tri ki.

Mặc dù chẳng hẹn nhưng họ lại gặp nhau và trở thành đồng chí. Họ cảm nhận được sự gắn bó keo sơn khi sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Lời thơ thật mộc mạc mà gần gũi nghe như văn kể chuyện về cuộc đời của những người lính trong lửa đạn chiến tranh.

Câu thơ Súng bên súng đầu sát bên đầu vừa có ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Những người lính luôn gắn bó bên nhau lúc chiến đấu cũng nhứ lúc sinh hoạt cùng đồng đội, “súng bên súng” là cùng chung hành động, “đầu sát bên đầu” là cùng chung lí tưởng tạo nên một nguồn sức mạnh.

Người lính đã cùng nhau sẻ chia gian lao, vất vả trong buổi đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ thiếu thốn:
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Họ cùng sẻ chia những giá trị vật chất tuy chẳng là bao nhưng thấm đẫm tình đồng đội. Cùng đắp chung một chiếc chăn bông trong những đêm rừng sương lạnh, đây là điều kiện thuận lợi để người lính dễ dàng trao đổi tâm tình cho nhau. Vì thế mà họ trở thành “tri kỉ” của nhau.

Hai tiếng “Đồng chí” được đột ngột tách thành một câu thơ riêng biệt có đi kèm một dấu chấm cảm, chia bài thơ thành hai nửa. Nửa trên là qui nạp, nữa dưới là diễn dịch. Hai nửa ấy như muốn làm rõ thêm tình cảm thiêng liêng của người chiến sĩ, làm lay động hàng triệu trái tim người đọc. 

Những vần thơ như mang nặng bâng khuâng, thương nhớ của những người chiến sĩ:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày 
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay.

Đây là sự hi sinh cao cả của người lính. Họ lên đường ra mặt trận mặc dù ruộng vườn nhà cửa phải bỏ hoang. Người lính đã vì cái chung mà hi sinh cái riêng, đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của bản thân mình. Thật cảm động hình ảnh Gian nhà không mặc kệ gió lung lay. Hai chữ “mặc kệ” được cất lên, đó là một sự nỗ lực về tâm lí, một sự cố gắng để vượt lên trên những tình cảm nhớ thương dằn lòng bởi họ thấm nhuần cái chân lí “nước mất nhà tan”.

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm Lao xao trong hồi kí Tuổi thơ im lặng của Duy Khán

Chính tình yêu quê hương của người chiến sĩ đã làm cho những vật vô tri vô giác cũng như dâng lên một nỗi nhớ:

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Đây cũng là cớ để gợi lên nỗi nhớ quê hương, nhớ cái giếng nước trong mát lành, nhớ gốc đa rợp bóng mát của quê mình. Họ luôn mang theo bên mình cả quê hương vào trong cuộc chiến đấu gian nan.

Mặc dù buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng người chiến sĩ cách mạng vẫn vượt qua:

Áo anh rách vai 
Quần tôi có vài mảnh vá 
Miệng cười buốt giá 
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Họ đã động viên nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm của tình người, tình đồng đội để vượt qua những cơn sốt rét, vượt lên những khó khăn của thời tiết khắc nghiệt:

Đêm nay rừng hoang sương muối 
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới 
Đầu súng trăng treo.

Trong cảnh “rừng hoang sương muối” người lính đứng bên nhau phục kích chờ giặc, Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả mọi khó khăn.

Trong khó khăn, những người lính vẫn ung dung, chủ động, vẫn sát cánh bên nhau “chờ giặc tới”. Người lính càng yêu đời hơn bởi nơi đây còn có một người bạn tri âm tri kỉ, người bạn đó là vầng trăng thơ mộng. Đối với những người lính ra đi từ chốn đồng quê, trăng đã trở nên gần gũi, giờ đây họ lại mang vầng trăng ấy vào trong chiến trường ác liệt. Nó như thức cùng người chiến sĩ trong những đêm khuya chờ giặc tới.

Không những thế, hình ảnh vầng trăng thơ mộng còn tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Trong không khí căng thẳng vì đối đầu với địch, người lính vẫn luôn hướng về ánh sáng trong trẻo của vầng trăng và hướng về lí tưởng chiến đấu vì hòa bình của dân tộc.

Bằng những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đã thể hiện vẻ đẹp tinh thần và sự gắn bó keo sơn của người cách mạng, vẻ đẹp của họ đáng được nâng niu, trân trọng.

Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu – Bài làm 3

Chính Hữu thuộc thế hệ nhà thơ chiến sĩ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Vừa cầm súng chiến đấu và cầm bút làm thơ, ông đã đóng góp cho nền văn học nước nhà nhiều thi phẩm đặc sắc về chiến tranh và người lính. Thơ Chính Hữu hàm súc, giàu tính tạo hình, giàu chất suy tưởng và có chất nhạc riêng độc đáo, khắc họa được tượng đài người lính sừng sững trên hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc.
Bài thơ Đồng chí được viết đầu năm 1948, sau khi Chính Hữu vừa tham gia chiến dịch Việt Bắc vô cùng gian khổ, ác liệt. Chính hiện thực cuộc sống kháng chiến gian lao và sôi nổi đó đã mang lại cho ông những cảm xúc chân thành về vẻ đẹp bình dị của người lính trong chiến tranh cách mạng và giúp ông thể hiện thành công một tình cảm cao đẹp mang dấu ấn thời đại: tình đồng chí.

Tình đồng chí là một tình cảm cao đẹp của những người cùng chung chí hướng, cùng chung lí tưởng. Thời nào cũng có tình đồng chí nhưng trước đây trong thơ ca trung đại, tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình bè bạn được khai thác nhiều hơn. Thời hiện đại, cùng với sự nghiệp; đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, một tình cảm được phát triển sâu rộng và được ngợi ca khẳng định nhiều nhất, ấy là tình đồng chí, đồng đội. Đây là tình cảm gắn bó thiêng liêng và bền chặt của những người cùng chung lí tưởng cách mạng, cùng sát cánh bên nhau chiến đấu cho sự nghiệp chung của dân tộc, của nhân dân.

Tình đồng, chí được hình thành trên cơ sở tình cảm giai cấp, sự tương đồng về cảnh ngộ:

Quê hương anh nước mặn đồng chua 
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Với những hình ảnh cụ thể, mang ý nghĩa hoán dụ, nhà thơ đã giới thiệu nguồn gốc xuất thân của hai nhân vật trữ tình. Họ đều là những người nông dân nghèo từ các miền quê khác nhau, có mặt trên các nẻo đường kháng chiến. Cái tôi trữ tình của nhà thơ đã hóa thân thành người nông dân mặc áo lính để viết những lời thơ tâm tình tặng bạn. Chọn một tâm thế biểu hiện như vậy, Chính Hữu đã có được những lời thơ chân thành, giản dị của những người trong cuộc, thật thấm thía, sâu nặng.

Quá trình nảy sinh và phát triển tình đồng chí được nhà thơ cắt nghĩa qua những hình ảnh của đời sống kháng chiến:

Anh với tôi đôi người xa lạ 
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí!

Anh và tôi, hai người ở xa nhau về không gian, không hẹn hò, không quen biết. Vậy nhân tố nào đã làm hai người xa lạ thành đôi tri kỉ và thành đồng chí của nhau? Nhà thơ Chính Hữu đã giúp người đọc nhìn thấy, cảm thấy và hiểu được sâu sắc cơ sở của tình đồng chí. "Súng bên súng" là cùng chung nhiệm vụ, cùng chung chiến hào, cùng sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu. "Đầu sát bên đầu" là cùng chung ý chí, là tâm đầu ý hợp, là cùng quyết tâm giải phóng Tổ quốc thân yêu. Gần gũi nhất là "đêm rét chung chăn” là cùng chung hơi ấm, cùng chung cảnh ngộ, là chia sẻ cùng nhau hơi ấm trong đêm. Tất cả những sự đồng cảnh, đồng cảm, đồng tình, đồng ý ấy đã biến hai người xa lạ thành đôi tri kỉ và hơn thế nữa là hai đồng chí của nhau. Từ Đồng chí đứng trọn một dòng thơ như một lời đúc kết, như là đáp số, là lời giải của sáu câu thơ trên. Tình đồng chí thật rộng lớn, thiêng liêng và võ cùng thân thiết, gần gũi, máu thịt. Trong cuộc sống chiến đấu, có mối tình nào nặng hơn tình đồng chí, đồng đội?

Nếu sáu câu mở đầu đã cắt nghĩa cội nguồn, sự hình thành tình đồng chí thì mười câu thơ tiếp theo là biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí trong hiện thực cuộc sống kháng chiến. Tình đồng chí ở đây cũng là tình đồng đội, tình cảm của những người cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù. Tình cảm đó trước hết thể hiện qua sự cảm thông chia sẻ những nỗi niềm về gia đình, quê hương:”

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày 
Gian nhà không, mặc kệ gió lưng lay 
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Đối với những người nông dân mặc áo lính, nỗi nhớ quê hương bao giờ cũng gắn liền với hình ảnh thân thuộc gần gũi như ruộng nương, nhà cửa. Khi bước vào cuộc sống chiến đấu, họ phải tạm gác tình nhà vì nghĩa lớn, tạm xa những gì thân thiết ở làng quê của mình, lòng sao khỏi xót xa. Nhưng họ biết chấp nhận, biết hi sinh và vượt lên hoàn cảnh: "Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. Lời thơ có vẻ ngang tàng nhưng vẫn có cái xót xa trước cái bất đắc dĩ của hoàn cảnh. Họ làm sao ở lại nơi tổ ấm khi quân thừ giày xéo đất nước quê hương. Họ đã nhất quyết ra đi nhưng lòng vẫn nặng tình nhà, vẫn lưu luyến với người thân, vẫn luôn nhớ "giếng nước”, "gốc đa” nơi quê nhà yêu dấu.

Câu thơ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” thể hiện rất đúng sắc thái tình cảm của người chiến sĩ ra đi từ làng quê. Họ nhớ về cảnh quê quen thuộc và cũng là nhớ về người thân yêu nơi thôn dã ấy. Tình cảm đó được thể hiện kín đáo qua biện pháp nhân hóa đậm màu sắc dân gian. Người lính nhìn về quê hương và biết rằng người thân ở quê hương cũng đang mong nhớ. Hai chiều nhớ thương ấy đều được gói gọn trong hình ảnh thơ "Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”.

Xem thêm:  Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao

Hiểu nhau, cảm thông chia sẻ cùng nhau những tâm tư về gia đình, quê những người đồng chí còn chia sẻ những gian khổ, khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống kháng chiến. Với bút pháp hiện thực và lời thơ bình dị, tác giả đã ghi lại những chi tiết sống động của hiện thực kháng chiến, những chi tiết tự nói lên những điều cảm động của tình đồng chí:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh 
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai        .
Quẩn tôi có vài mảnh vá 
Miệng cười buốt giá 
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Những người lính thời kháng chiến chống Pháp phải đương đầu với những trận sốt rét ác tính, không ít người bị căn bệnh ấy cướp đi sinh mệnh của mình. Nhà thơ Chính Hữu có kể lại thời gian gian khổ đó: "Phải nói là chiến dịch vô cùng gian khổ. Bản thân tôi cũng chỉ phong phanh trên người một bồ áo cánh, dầu không mũ, chân không giày. Đêm ngủ nhiều khi phải rải lá khô để nằm, không có chăn màn, ăn uống rất kham khổ vì đang trên đường hành quân truy kích địch. Tôi cũng phải có trách nhiệm chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ. Sau trận tôi ốm, tôi phải nằm lại điều trị. Đơn vị cử một đồng chí ở lại săn sóc tôi. Trong khi ốm nằm ở nhà sàn heo hút, tôi làm bài thơ Đồng chí (Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo dục, tr.136). Những hình ảnh, chi tiết trong bài thơ này đều được lấy từ cuộc đời thật của Chính Hữu và đồng đội. Sự chân thực của những chi tiết, sự mộc mạc của những hình ảnh và cách thể hiện tình cảm thầm lặng, chân tình đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ sâu sắc của bài thơ Đồng chí.
Nhưng tính sáng tạo và sức lay động mạnh nhất của thi phẩm này tập trung tỏa sáng ở mấy câu thơ kết:

Đêm nay rừng hoang sương muối 
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới 
Đầu súng trăng treo.

Đây là những hình ảnh rất thực và đồng thời cũng rất lãng mạn. Giữa cảnh hoang vu, tĩnh mịch và lạnh lẽo của núi rừng đêm đông hiện lên hình ảnh thân thiết, gắn bó của những người chiến sĩ sát cánh bên nhau canh giữ đất trời. Điều kì diệu là trong khi "chờ giặc tới", người chiến sĩ đã bất ngờ gặp gỡ vầng trăng. Nhà thơ Chính Hữu kể rằng: "Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng. Đi phục kích giặc trong đêm, trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật: khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện với nhau tạo ra hình ảnh "đầu súng trăng treo" (Nhà văn nói về tác phẩm). Tính sáng tạo của hình ảnh này trước hết là sự liên kết thật bất ngờ. Vầng trăng là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca muôn đời nay. Nhưng vầng trăng ấy lơ lửng ở chân trời có lúc sà xuống treo vào đầu súng thì thật mới lạ thật bất ngờ, là một khám phá của nhà thơ Chính Hữu. Chữ treo ở cuối bài thơ quả thật là "nhãn tự” trong một "thần cú": “Đầu súng trăng treo”. Treo là không  bị buộc chặt, là lơ lửng, bay bổng lãng mạn. Treo cũng hợp với nhịp điệu 2/2 của câu thơ, cái nhịp đưa võng lơ lửng, chơi vơi trong mênh mông bát ngát của bầu trời. Hình ảnh “đầu súng trăng treo" đã vượt lên ý nghĩa tả thực để trở thành một biểu tượng, một hình ảnh tượng trưng. Hình ảnh này gợi lên sự kết hợp giữa cái chân thực dữ dội của cuộc kháng chiến và sự bay bổng của tâm hồn người chiến sĩ, sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần chiến đấu và vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên.

Sự kết hợp kì diệu giữa súng và trăng là một khám phá mới mẻ độc đáo, góp phần quan trọng tạo nên giá trị to lớn của bài thơ Đồng chí. Gần hai mươi năm sau, khi cho ra mắt một tập thơ dành trọn tâm huyết của cuộc đời cầm bút, Chính Hữu đã tâm đắc đặt tên tập thơ này là Đầu súng trăng treo (1966).

Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu – Bài làm 4

Lịch sử nước ta là lịch sử của những cuộc kháng chiến chống xâm lâng nối tiếp nhau. Trong chiến tranh giữ nước, người chiến sĩ cầm súng thực sự trở thành hình ảnh cao đẹp nhất.

Là nhà thơ quân đội, Chính Hữu viết nhiều về người lính và dành riêng cho họ một tình cám ưu ái, trân trọng. Từ thực tế gian nan, máu lửa, với cảm xúc chân thành của người trong cuộc, tác giả đả sáng tác ra bài thơ Đồng chí, một trong những bài thơ hay nhất về người chiến sĩ trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ Đồng chí ra đời năm 1918, in trong tập Đầu súng trăm treo. Trải qua hơn nửa thế kỉ, bài thơ đã trở thành người bạn tâm tình của nhiều thế hệ cầm súng chống Pháp và chống Mĩ.

Cuộc kháng chiến chống Pháp là nơi hội tụ của bao tấm lòng yêu nước. Từ giã quê hương, hàng triệu thanh niên nông dân tình nguyện gia nhập quân đội, chiến đấu cho một lí lương chung là bảo vệ chủ quyền: độc lập tự do thiêng liêng của dân tộc. Trong cuộc sống đầy gian khổ, hi sinh, chiến sĩ ta gắn bó chặt chẽ với nhau. Một tình cảm mới mẻ đã nảy sinh và ngày càng trở nên sâu sắc, đó là tình đồng chí. Chinh Hữu đã ghi lại tình cảm cao quý ấy trong bài thơ mộc mạc mà có sức rung cảm lạ thường. Bài thơ mở đầu bằng những lời tâm sự chân tình:

Quê hương anh nước mận, đồng chua 
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ 
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí!

Đó là lời trao gửi tâm tình của hai người lính xa quê vào những phút giây nghỉ ngơi ngắn ngủi sau chặng hành quân dài vất vả, sau một trận đánh ác liệt hay trong đêm rừng cùng nhau phục kích quân thù.
Điều làm cho mọi người dễ xích lại gần nhau là những câu chuyện quê hương, Quê hương anh và làng tôi, cách gọi chứa đựng tình cảm gắn bó thiết tha. Không thấy nhắc đến tên một địa phương cụ thể nào, chỉ biết rằng quê hương anh là vùng nước mặn đồng chua. Câu thơ gợi nhiều hơn tả. Thành ngữ nước mặn đồng chua đi vào câu thơ rất tự nhiên, khiến người đọc liên tưởng đến một vùng đồng chiêm trũng ven biển quanh năm úng lụt. Cuộc sống người dân ở đây rất gieo neo, cơ cực.

Còn làng tôi là một làng nghèo ở vùng trung du đồi núi, đá sỏi cây cằn, đất đai quý hơn vàng bạc. Con người phải đổi bát mồ hôi lấy bát cơm.
Cả hai vùng quê đều nghèo nàn, lam lũ. Nghèo và cực truyền từ đời này sang đời khác, năm này sang năm khác… Ấy vậy mà lúc xa quê, ai cũng thương cũng nhớ đến quặn lòng. Chính Hữu vốn nặng tình nặng nghĩa với làng quê Việt Nam nên khi nhắc đến, giọng thơ anh xao xuyến, bồi hồi khó tả. Chỉ qua hai câu thơ thôi tác giả đã nêu rõ thành phần xuất thân của người chiến sĩ. Phần lớn họ là nông dân nghèo khổ. Theo tiếng gọi cứu quốc, họ tạm xa con trâu, mảnh ruộng đế cầm súng giết giặc. Ra đi chiến đấu, mỗi người để lại sau lưng nơi chôn nhau cắt rốn với luỹ tre xanh, với mái tranh nghèo quen thuộc và những người thân yêu nhất,

Không hẹn mà nên, những người nông dân ấy gặp nhau tại một điểm: lòng yêu nước. Tình yêu quê hương, gia đình, nghĩa vụ công dân thúc giục họ lên đường chiến đấu. Bởi thế nên từ những phương trời xa lạ, mọi người chẳng hẹn mà quen nhau. Giống như những anh lính trong bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên:

Lũ chung tôi bọn người tứ xứ,
Quen nhau từ buổi “một, hai”.
Súng bắn chưa quen,
Quân sự mươi bài,
Lòng vẫn cười vui kháng chiến.

Trong môi trường quân đội, đơn vị thay cho mái ấm gia đình, tình đồng đội thay cho tình máu thịt. Cái xa lạ lần đầu nhanh chóng bị xóa đi. Sát cánh bên nhau chiến đấu, càng ngày họ càng cảm nhận sâu sắc về sự hoà hợp, gắn bó giữa đồng đội cùng chung lí tưởng và hành động:

Xem thêm:  Ý kiến về lời khuyên “Đừng sống theo điều ta mong muốn. Hãy sống theo điều ta có thể”- văn lớp 10

Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Ngày cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, chia nhau gian khổ, hiểm nguy, đêm đắp chung một chiếc chăn đơn, qua tâm sự vui buồn, họ thành tri kỉ. Khi đà thành tri âm tri kỉ rồi thì ngọt bùi san sẻ, sống chết có nhau.

Trong kháng chiến chông pháp; có một bài ca dao vui nói về cuộc Sống gian khổ và tinh thần lạc quan của chiến sĩ ta. Ba anh lính đáp chung một chiếc chăn đơn nên: Thằng kín cái đầu, thằng hở cái chân. Loay hoay mãi cũng vậy. Bên ngòai, gió rừng thổi ào ào, lạnh thấu xương. Ba anh bèn nảy ra sáng kiến: … Ba thằng quặp chặt và ngạo nghễ thách thức: gió lùa vào đâu? Họ ôm lấy nhau, truyền hơi ấm, tình cảm cho nhau.

Giữa những lúc cơ cực thiếu thốn và thử thách ghê gớm của buổi đầu kháng chiến, tình đồng đội đã trở thành tình đồng chí thiêng liêng vô hạn. Đồng chí đứng tách riêng ra khỏi khi thơ như một tiếng gọi thốt lên tự đáy lòng với bao tình cảm mến thương, trân trọng. Không còn một khoảng cách nào giữa những người chiến sĩ. Từ chỗ xa lạ đến quen nhau và giờ đây họ thành đồng chí của nhau, kề vai sát cánh chiến đấu đế giải phóng quê hương, đất nước.
Nối tiếp dòng cảm xúc là suy nghĩ của tác giả về đồng đội:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày 
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay 
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh 
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai .
Quần tôi cỏ vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Là lao động chính của gia đình, giờ các anh đi chiến đấụ, bao khó khăn vất vả sẽ đè nặng lên vai cha già, mẹ yếu, vợ dại, con thơ. Biết chắc là như thế nhưng các anh vẫn quyết ra đi cứu nước vì cứu nước là cứu nhà. Ruộng vườn thì gửi bạn thân cày; gian nhà tranh cù kĩ, xiêu vẹo đành mặc kệ gió lung lay. Mặc kệ nghĩa là dẹp hết chuyện riêng tư sang một bên để lo đánh giặc trước đã. Phảng phất đâu đây cái chí của Người ra đi đầu không ngoảnh lại (Nguyễn Đình Thi). Đây là phong thái, là cách nói dân dã, mộc mạc của người nông dân. Hai cách nói khác nhau nhưng cùng chung một thái độ: dứt khoát đưa nhiệm vụ cứu nước lên trên hết.

Xác định như vậy để đỡ lưu luyến lúc ra đi chứ không phải để mà quên. Ai mà đoạn tình đoạn nghĩa được với quê hương, gia đình? Ở chiến trường, lúc này lúc khác, các anh vẫn nhớ về hậu phương với nỗi nhớ thiết tha và hình ảnh ruộng nương, bè bạn, mái tranh nghèo tưởng chừng như dang lung lay trước cơn gió mạnh, lại hiện ra rõ ràng trong tâm trí các anh.

Làng quê Việt Nam bạo đời gắn bó với hình ảnh của cây đa, giếng nước, sân đình. Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính là cách nói khác đi về nỗi nhớ sâu nặng cúa các chiến sĩ đối với quê hương, xứ sở. Nỗi nhớ ấy, tình yêu ấy đà đem lại cái hồn cho cảnh vật. Người nhớ cảnh, cảnh nhớ người. Chính tình yêu quê hương làng xóm đã thôi thúc các anh chiến đấu và chiến thắng quân thù.

Trải qua cuộc sông gian khổ biết bao điều gắn bó chiến sĩ ta lại với nhau:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh 
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.

Tôi với anh chung cảnh ngộ, anh với tôi chung một lí tưởng, chung đội ngữ và tôi với anh giờ đây lại chung cả những cơn sốt rét rừng ghê gớm. Cái căn bệnh quái ác mà lính ta anh nào cũng sợ. Sợ mà không sao tránh khỏi. Nhà thơ nhắc đến chuyộn này như nhắc đến một kỉ niệm khó quên trong tình bạn.
Bài thơ đem lại sự rung động sâu sắc khi dựng nên được hình ảnh trung thực và giản dị của anh bộ đội cụ Hồ:

Áo anh rách vai 
Quần tôi có vài mảnh vá 
Miệng cười buốt giá 
Chân không giày

Dầu kháng chiến, chúng ta đánh Pháp trong hoàn cảnh cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nên chiến sĩ ta có gì mặc nấy. Ở giữa rừng sâu kim chỉ chẳng có, rách đâu lấy dây rừng cột túm đấy. Và vậy mới thành những giai thoại vui về các anh Vệ túm, Vệ trọc, giản dị, sơ sài mà vẫn không kém oai phong. Thiếu thốn, gian khổ là thế mà vẫn vui vẻ tin tưởng. Miệng cười buốt giá… là thái độ coi thường thử thách, khó khăn, là chất lạc quan đến thanh thản của những con người hồn nhiên, giản dị. Đó cũng là cách dũng thuộc về bản chất của con người Việt Nam. .

Đọc đôn đây, ai mà không cảm động trước hình ảnh cha ông mình đánh giặc giừa trăm ngàn thiếu thốn. Có thế mới hiểu hơn, thương quý hơn những lớp người đi trước, say mê đánh giặc với vũ khí tự tạo:

Lột sắt đường tàu 
Rèn thêm đao kiếm 
Áo vải chân không 
Di lùng giặc đánh
(Hồng Nguyên)

Khác chi người lính Tây Sơn áo vải cờ đào, khác chi người nông dân mến nghĩa làm quân chiêu mộ, chẳng cần qua mười tám ban võ nghệ vẫn anh dũng lao vào cuộc chiến đấu chống xâm lãng với rơm con cúi, lưỡi dao phay mà cùng làm nên chiến thắng.

Có sự gặp gờ lạ kì giữa xưa và nay, tạo nên hình ảnh truyền thống của người dân Việt Nam ngàn đời đánh giặc.

Bao thiếu thốn vật chất được thay thế bằng tình thương yêu sâu sắc của đồng đội:

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Có lẽ không ngôn ngữ nào diễn đạt cho hết tình đồng chí thắm thiết trong hoàn cảnh ấy. Cái xiết tay thật chặt và ánh mắt cảm thông, tin cậy đủ nói thay cho tất cả.

Đoạn kết của bài thơ thật đẹp. Nó dã tạc vào thơ ca hiện đại chân dung người chiến sĩ mộc mạc, đơn sơ mà khoẻ khoắn, hào hùng:

Đêm nay rừng hoang sương muối 
Đứng cạnh bên nhau chờ giặt: tới  
Đầu súng trăng treo.

Chất hiện thực nghiệt ngã và lãng mạn bay bổng hoà quyện với nhau. Cảnh vẫn là cảnh rừng hoang, sương muối âm u, lạnh giá nhưng dường như nó không con de doạ được con người nữa mà trái lại, nó bị đẩy lùi ra tít phía sau, nhường chỗ cho hình ảnh của đồng đội đang sát cánh bên nhau trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng người chiến sĩ, chắp cánh cho tâm hồn họ bay bổng. Đêm khuya chờ giặc, trăng đã xế ngang tầm súng. Và lạ lùng thay, như một khám phá bất chợt, thú vị: Đầu súng trăng treo. Câu thơ như một tiếng reo vui chứa đựng bao ý nghĩa. Trong sự tương phản giữa hai hình ảnh súng và trăng, người đọc vẫn tìm ra được môi quan hệ gần gũi. Súng tượng trưng cho tinh thần quyết chiến để bảo vệ hoà bình. Trăng tượng trưng cho cái đẹp và cuộc sống yên vui. Súng và trăng là biểu tượng sóng đôi của dân tộc Việt Nam dũng cảm, hào hoa muôn thuở, đồng thời nó cung thể hiện rõ nét cái tư thế chủ động, tin tưởng và tâm hồn lạc quan, yêu đời của chiến sĩ ta.

Như tên gọi của nó, bài thơ Đồnq chí là bức chân dung sống động về anh bộ đội Cụ Hồ buổi đầu kháng chiến. Chính Hữu đã khắc hoạ hình ảnh người chiến sĩ với tấm lòng cảm phục và mến thương sâu sắc. Bài thơ lưu lại mãi mãi trong kí ức bao thế hệ cầm súng chống xâm lăng từ đó đến nay. Bởi thế, nhắc đến tác giả là người đọc nhớ ngay đến bài thơ. Chỉ thế thôi cũng là điều thật đáng quý đối với người sáng tác.

Từ khóa từ Google

  • phân tích bài thơ đồng chí hay nhất

Bài viết liên quan