Bình giảng bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm

Bình giảng bài thơ Bên kia sông đuống của Hoàng Cầm – Bài làm 1

Loading...

Trong sáng tác thơ, có một điều vừa tự nhiên vừa kỳ diệu, dường như mỗi nhà thơ đều có quê hương để mà ký thác, hoài niệm đồng thời mỗi quê hương cũng nhự tìm đến và trao gởi hồn vía của mình cho một vài thi nhân nào đó. Thi nhân ấy mang bao suy tư, nỗi niềm đam si, chiêm nghiệm ký thác vào hình tượng quê hương, tôn vinh hình tượng quê hương, và quê hương yêu dấu gợi ý mách bảo, góp phần thăng hoa cảm xúc thơ, làm nên gương mặt tinh thần của thi nhân qua những hình tượng thơ. Đó là trường hợp Tố Hữu, Hàn Mặc Tử với xứ Huế, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi với Hà Nội; và đặc biệt là Hoàng Cầm với quê hương Kinh Bắc. Thi sĩ Hoàng Cầm và thơ Hoàng cầm thật sự là thi sĩ của Kinh Bắc và thơ thuộc về Kinh Bắc, vinh hạnh ấy Hoàng cầm đá đánh đổi bằng cả cuộc đời thơ của mình với tất cả niềm vui, nỗi buồn, với bao nếm trải mưa nắng, thăng trầm "nghệ sĩ thật sự vĩ đại trước hết phải là nghệ sĩ của một dân tộc, một quê hương ".

Đọc thự Hoàng Cầm, "những vần thơ dễ làm ta chày nước mắt thấy hiện lên cảnh vật và người Kinh Bắc một vùng đất trù phú, hữu tình với biết bao di tích lịch sử, đền Mi, miếu mạo, biết bao hội hè gắn với những sinh hoạt văn hóa nổi tiếng:

Hội Gióng, Hội Lim, Hội Chùa Dâu,… Đọng trong âm hưởng và nhịp điệu thơ ông là âm hưởng trầm bổng của những làn điệu dân ca đất Kinh Bắc rất đỗi quen thuộc với tâm hồn Việt Nam. Bài thơ "Bên kia sông Đuống" là một kết tinh nghệ thuật tiêu biểu của thơ Hoàng Cầm. Cả bài thơ đắm trong cảm xúc đau xót, tiếc nuối, xót xa căm hận trước cảnh tượng quê hương Kinh Bắc vốn thanh bình, tươi đẹp bỗng chốc bị giặc tăn phá. Mỗi khổ thơ đều được mở đầu bằng hình ảnh dòng sông Đuống – một sinh thể hữu hình tiềm ẩn sức sống, văn hóa, tâm hồn Kinh Bắc, tạo cho bài thơ như một bản giao hưởng trầm hùng thấm đậm chất trữ tình qua từng điệp khúc tâm tình. Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ là một điệp khúc giàu sức gợi hình tượng và tạo được sự truyền cảm sâu xa:

"Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…"

Bao nhiêu yêu dấu, ân tình đọng trong mấy tiếng "Quê hương ta". Đây quê hương Kinh Bắc với những đặc sản đặc trưng của cuộc sông vật chất và tinh thần. Hình ảnh thơ không tả mà biểu hiện. Đây là những dòng thơ được chắt lọc từ dòng tâm thức của nhà thơ, cũng là của chung những người con của Kinh Bắc mỗi khi nhớ về quê hương, chi bằng vài ba từ biểu cảm "thơm nồng", "nét tươi trong", "sáng bừng"… người đọc có thể hình dung được nét rạng rỡ trên gương mặt đầy tự hào của nhà thơ khi nghĩ về quê hương. Cái hương vị thơm nồng, "đậm đà khó quên" của lúa nếp làng Vân còn gợi nên cuộc sông của những người lao động trong cảnh ấm no hạnh phúc và thanh bình. Hương vị ấy được chưng cất từ ruột đất mẹ do công lao chăm bẵm khó nhọc của người lao động, hương vị ấy còn là thơm thảo của tấm tình người dân quê hương muôn dâng hiến cho cuộc đời. Đến nhá thơ hương vị ấy lại được chưng cất thành thơ, đến với mọi người để cùng chia sẻ vị thơm nồng với quê hương Kinh Bắc.

Những bức "tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong" lại là một phương diện khác, độc đáo kết tinh vẻ đẹp tài hoa trong cuộc sống tinh thần người Kinh Bắc. "Nét tươi trong” là màu sắc ưa màu sáng, rạng rỡ, hồn nhiên, trong lành. Những bức tranh làng Đông Hồ do những nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm những đề tài quen thuộc phản ánh tâm tư khát vọng trong sáng lãng mạn và khống kém phần dí dỏm của người lao động: Đánh ghen, Hứng dừa, Xem vật, Đám cưới chuột,…, không chỉ "tươi trong" bới được vẽ bằng màu sắc chắt lọc từ nguyên liệu thảo mộc của quê hương, mà còn bởi tâm hồn bình dị sáng trong luôn mang khát vọng sống lạc quan của người lao dộng. Nghệ sĩ dân gian đã làm sống dậy được phẩm chất và tâm hồn dân tộc. Nếu nổi trong thơ có "nhãn tự" thì những chữ "thơm nồng", "sáng bừng" trong những dòng thơ trên là một biểu hiện như vậy. Nhà thơ đã dùng những hình thức biểu đạt giản dị và hàm súc nhất để diễn tả vẻ đẹp đặc trưng, và thiêng liêng nhất về quê hương của mình. Không có cuộc sống gắn bó máu.thịt với quê hương, không thá thiết với vẻ đẹp tinh túy của truyền thống quê hương, không thể có được những mần cảm kì diệu như vậy. Đọc những dòng thơ Hoàng Cầm viết vẻ Kinh Bắc, chúng ta lại bồi hồi liên tưởng đến quê hương của mình…, và cảm ơn nhà thơ Hoàng Cầm đã nói đúng phần hồn linh nghiệm nhất của chúng ta mỗi khi trào dâng cảm xúc hoài niệm về quê hương.

Vì quê hương xiết bao yêu dấu, tự hào sông trọn trong trái tim nhà thơ, nên khi giặc tràn tới, cả quê hương ngập chim trong khói lửa chiến tranh, nhà thơ đã diễn tả nỗi đau xót cầm hờn xen lần tâm trạng tiếc nuôi xót thương với những hình ảnh đầy ấn tượng:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã 
Bây giờ tan tác về đâu?

Loading...

Nhịp thơ ở khổ trên, khi diễn tả cuộc sống thanh bình, đều đặn dàn trải, ổn định. Đên khổ thơ này câu thơ, nhịp thơ đều xáo trộn, dồn dập như nhịp đập của con tim hồi hộp xúc động khi biết tin quê hương bị tàn phá. Hình ảnh thơ tạo nên sự tương phản đối xứng, là dụng ý nghệ thuật của nhà thơ, phù hợp với qui luật cảm xúc. Nếu ở khổ thơ trên hình ảnh "lúa nếp thơm nồng" gợi nhớ về những cánh đồng quê mỗi mùa vụ sây hạt nặng bông của cuộc sống thanh bình, thì ở khổ thơ này hình ảnh những cánh đồng quê khô cháy bởi "ngọn lửa hung tàn" của chiến tranh, khơi dậy lòng căm hận, xót xa sâu nặng. Có nét đồng điệu trong cảm xúc giữa hình ảnh "Ôi những cánh đồng quê chảy máu, dây thép gai đâm nát trời chiều" trong "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi với "Ruộng ta khô, nhà ta cháy" của Hoàng cầm. Cảm thức về tình yêu quê hương đất nước thường bắt đầu từ những hình ảnh chân thực đấy gợi cảm ấy.

Và đây nữa hình ảnh những bức tranh Đông Hồ "gà lợn nét tươi trong" của cuộc đời thường nhật bình yên bỗng chốc bị đảo lộn. Hình tượng thơ nửa hư, nửa thực cổ sức ám ảnh lạ lùng. Kẻ thù đã đến "kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang" những ngôi nhà bình yên treo những bức tranh Đông Hồ quen thuộc bị xéo nát. Tác giả đã hình tượng hóa thành bức thông điệp nghệ thuật giàu giá trị gợi cảm. "Mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa dôi ngả – đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã, bây giờ tan tác về đâu?".

Câu thơ nhắc ta nhớ lại hình ảnh trong bài "Chạy Tây" của nhà thơ Nguyền Đình Chiểu thuở nào:

"Bỏ nhà lủ trẻ lơ xơ chạy 
Mất ổ dàn chim dáo dác bay".

Mỗi cách diễn tả có hiệu quả biểu cảm riêng, gieo vào lòng người đọc nỗi đau xót . trước cảnh trẻ thơ và tổ ấm hạnh phúc bỗng "tan đàn xẻ nghé". Cùng một tư duy nghệ thuật (nổi về chiến tranh, hình ảnh thương tâm nhất vẫn là phụ nữ và trẻ thơ), nhưng thơ của Hoàng cầm sử dụng hình ảnh ẩn dụ mang bản sắc riêng của Kinh Bắc. Đây là một sáng tạo nghệ thuật thuộc về phong cách tho Hoàng Cầm – "thực tại nơi Hoàng Cầm cơ hồ thăng hoa tới những miền lưu viễn của tâm linh’. Nói kẻ thù tàn phá mà viết "ngùn ngụt lửa hung tàn", để rồi đưa vào hình ảnh "mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa đôi ngả…" quả là một tư duy nghệ thuật đậm chất nhân bản. Nhà thơ vo Cao trong bài "Núi đôi" khi diễn tả nỗi đau trước cảnh quê hương bị tàn phá cũng đã có một hình ảnh thật dáng nhớ:

"Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc đến

Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau".

Thân cau nơi ngõ chùa bình yên cháy đỏ, thì tính chất nghiêm trọng của chiến tranh đã đến cực điểm. Nếu làm một thông kê về những hình tượng độc đáo diễn tả nỗi đau trước cảnh quê hương bị xâm lược, chắc chắn sẽ cổ được những tư liệu bổ ích về quê hương trong chiến tranh.

Yêu thương và căm hờn là hai trạng thái cảm xúc đồng hành trong tâm trạng con người trước nỗi đau nước mất nhà tan. Vì vậy đôi lập với hình ảnh gợi tình cảm yêu thương đầy nuối tiếc là những hình ảnh kẻ thù man rợ:

"Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu".

Trạng thái cảm xúc hờn căm quân xâm lược kết tinh cô đọng trong hai câu thơ có sức diễn tả mạnh. Lưỡi lê vấy máu của kẻ thù được miêu tả trong liên tưởng "lười dài lê sắc máu" của đàn chó ngộ, giúp ta hình dung khá tường tận bộ mặt hung hãn vô độ của lũ giặc ngoại bang mất hết nhân tính. Trong bài thơ "Bên kia sông Đuống" có hai lần tác giả nhắc đến kẻ thù, cả hai lần đều diễn tả bằng những câu thơ đầy ấn tượng. Một lần miêu tả bộ mặt hung hãn bằng sắc diện chung, lần sau miêu tả sự hung hãn qua hành động cướp bóc:

"Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn 
Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc Tan phiền chợ nghèo",

Tác giả đã chớp được hình ảnh đặc trưng của lũ giặc Tây "xì xồ" cướp bóc làm tan phiên chợ nghèo dân dã. Văn thơ truyền thông, khi nói đến kẻ thù xâm lược thường sử dụng lối so sánh mang tính ẩn dụ. Kẻ thù được vật hóa với tất cả những hành động thú tính như loài dê chó đê hèn. Nhà thơ Hoàng cầm đã góp thêm những hình tượng độc đáo vừa vẽ lại được những hình ảnh kẻ thù, vừa để hả mối căm hận đang ngùn ngụt trong lòng.

Kết thúc đoạn thơ là một câu hỏi tu từ: "Bây giờ tan tác về đâu?". Nhịp thơ trở lại ổn định diễn tả tâm trạng lơ lắng, xót xa đến nghẹn ngào. Trong bài thơ, những câu kết đoạn đều là một câu hỏi tu từ, chứa chất nỗi niềm của đứa con xa quê đang hình dung về quê hương bị dày xéo: "Sao xót xa như rụng bàn tay?"; "Bây giờ tan tác về đâu?"; "Bây giờ đi đâu về đâu?”. Đó là những nốt nhấn trầm tạo điệp khúc dư ba cho bản nhạc tâm tình của nhà thơ.

Được biết bài thơ ra đời trong một đêm giữa tháng tư năm 1948 khi tác giả nghe tin giặc tàn phá quê hương Kinh Bắc của mình phía bên kia sông Đuống. Ông "cực kì xao xuyến, tâm tư chồng chất những nhớ thương, tiếc nuối, xót xa với cảnh với người nơi quê bị tàn phá, giết hại cùng với một niềm căm hận sâu lắng" (Dẫn theo "Để học tốt văn 12"). Hoàn cảnh đã thổi bùng cảm xúc về tình yêu tha thiết, mê say dối với quê hương chất chứa tiềm ẩn trong lòng nhà thơ, và đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo khơi dậy những sáng tạo nghệ thuật đậm đà màu sắc dân tộc. Hoàng Cầm đã dành cho quê hương những tình cảm mãnh liệt nhất, thiết tha và trong sáng nhất. Chính vì vậy bài thơ tạo được sự đồng cảm sâu sắc và cổ sức truyền cảm lay động tâm hồn con người, trở thành biểu tượng đẹp dỗ của tình yêu quê hương đất nước.

Bình giảng bài thơ Bên kia sông đuống của Hoàng Cầm – Bài làm 2

Nhà thơ Hoàng Cầm sinh ra ở Bắc Ninh – quê hương quan họ với những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm chính là suối nguồn nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca của ông. Mảnh đất Kinh Bắc đã gợi thương gợi nhớ cho Hoàng Cầm, nó giống như một ám ảnh nghệ thuật trong thơ ông. Đọc thơ ông, thấy hiện lên cảnh vật và con người Kinh Bắc – một vùng đất trù phú, hữu tình với biết bao di tích lịch sử, đền đài, miếu mạo, biết bao những sinh hoạt, những truyền thống văn hóa lâu đời: Hội Gióng, hội Lim.. Bài thơ Bên km sông Đuống là một kết tinh nghệ thuật tiêu biểu của nhà thơ.

Mỗi khổ thơ trong bài thơ đều được mở đầu bằng hình ảnh dòng sông Đuống – một sinh thể hữu hình tiềm ẩn sức sống, văn hóa, tâm hồn Kinh Bắc, tạo cho bài thơ như một bản giao hưởng trầm hùng thấm đượm chất trữ tình, cảm hứng ấy được bộc lộ khá rõ ngay từ mở đầu bài thơ, khi người con của quê hương đứng ở "Bên này" nhìn về Bên kia sông Đuống:

Em ơi buồn lòng chi 
Anh đưa em về Bên kia sông Đuống

Bài thơ mở đầu thật tự nhiên, câu thơ vừa như lời gọi vừa như một lời an ủi, vỗ về. Hai câu thơ chủ yếu sử dụng toàn thanh bằng, tạo ra được độ mênh mang, dàn trải trong cảm xúc. Nó làm cho bài thơ nhẹ nhàng, như ru như hát gợi dậy trong lòng người bao nỗi niềm bâng khuâng. Tác giả trò chuyện tâm tình với người em gái Kinh Bắc hay cũng chính là giãi bày lòng mình, an ủi em cũng chính là an ủi mình, đó chỉ là cái cớ để bộc lộ cảm xúc của tác giả. Sông Đuống là điểm đến trong tâm tưởng của Hoàng cầm. Ngay cả lời an ủi người em gái cũng hướng về dòng sông đầy kỉ niệm ấy.

Rõ ràng hình ảnh sông Đuống là một ám ảnh trong ký ức của Hoàng Cầm về quê hương Kinh Bắc. Sau khi giới thiệu, nhà thơ tiếp tục làm rõ bức tranh toàn cảnh của dòng sông này:

Ngày xưa cát trắng phẳng lì 
Sông Đuống trôi đi 
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì

“Ngày xưa cát trắng phẳng lì" giống như một câu thơ bản lề. Từ "ngày xưa” làm cho thời gian hiện tại như bị đẩy lùi về quá khứ, người ta ngỡ như bắt gặp đâu đó thế giới cổ tích huyền diệu. Câu thơ ắp đầy hoài niệm bâng khuâng. Hình ảnh Kinh Bắc thanh bình phẳng lặng còn được gợi tả khá tài tình qua "cát trắng phẳng lì" – chỉ cần gợi ra một chi tiết mà giúp người đọc nhận ra thần thái của cả bức tranh. Ở đây, hình ảnh sông Đuống được miêu tả cụ thể, đẹp đẽ, sống động, nó giống như một chinh thể đẹp mà ở góc nhìn nào người ta cũng cảm nhận được và kiêu hãnh với vẻ đẹp của nó. Không những thế, sông Đuống còn được nhìn trong trạng thái động "Sông Đuống trôi đi” nhưng quan trọng hơn nữa, người đọc cảm nhận dòng chảy của nó, sự trôi chảy của dòng sông cũng chính là sự trôi chảy của thời gian lịch sử. Nhà thơ còn sử dụng từ láy "lấp lánh" tạo ra sự lung linh, rực rỡ, mỹ lệ cho dòng sông. Trong cái lấp lánh ấy người đọc cảm nhận được ánh sáng của nó, lúc này đây dòng sông đã trở thành dòng ánh sáng, không những thế dường như chúng ta còn cảm thấy niềm tự hào kiêu hãnh của tác giả gửi gắm trong câu thơ này. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa là cho dòng sông có dáng "nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì", sông Đuống giống như một chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc kháng chiến của dân tộc. Cái hay của câu thơ là ở từ "nghiêng nghiêng" – từ láy tạo hình chúng ta như cảm nhận được vóc dáng của dòng sông mềm mại uốn lượn và rất nhịp nhàng, gợi cảm. Có lẽ phải có cái dáng "nằm nghiêng nghiêng" ấy con sông mới như một sinh thể có hồn, có tâm trạng hơn, phải chăng vì thế mà có ý kiến cho rằng: hình ảnh sông Đuống trong cảm nhận của Hoàng Cầm được miêu tả như một người thiếu nữ trong nỗi niềm trăn trở, lo âu. Tiếp đó, hình ảnh một chốn quê thanh bình, một không gian yên ả đã hiện ra:

Xanh xanh bãi mía bờ dâu 
Ngô khoai biêng biếc

Đây là những nét vẽ điển hình của làng quê Việt Nam, đây là bãi mía bờ dâu, kia là ngô khoai. Tất cả đều là những hình ảnh quen thuộc, bình dị đối với con người Việt Nam. Hoàng Cầm viết về những hình ảnh ấy bằng tất cả sự gắn bó và niềm yêu mến tha thiết. Bao trùm lên toàn bộ không gian là một mầu xanh nhưng với những sắc độ khác nhau, "xanh xanh", "biêng biếc". Người đọc cảm nhận được nét trù phú tốt tươi, khoáng đạt, trong sáng của cảnh vật, chúng như ánh lên một sự sống mạnh mẽ. Bài thơ này được viết theo mạch cảm xúc nhớ thương, mê mải với quá khứ thanh bình rồi ngỡ ngàng với nỗi đau ở hiện tại. Hai câu thơ tiếp theo như vỡ òa nước mắt:

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc 
Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên này – bên kia, một dòng sông chia cách hai khoảng trời, chia cách đôi bờ Kinh Bắc một bên là vùng tự do, một bên đã bị giặc chiếm đóng. Cấu trúc "sao nhớ tiếc" "sao xót xa" ẩn chứa đầy tâm trạng đớn đau, mà nhớ, tiếc nuối xót xa. Chữ "sao" như xoáy vào lòng người đọc một nỗi nhức nhối, đau đáu, khôn nguôi, xưa là thanh bình đẹp đẽ, nay là đau đớn chia lìa. Ở đây nỗi đau đã lên đến tột cùng và được cụ thể hóa như là có thể cảm giác được quê hương như là một phần máu thịt, bởi thế quê hương bị chia cắt cũng giống như con người mất đi một phần cơ thể mình. "Như rụng bàn tay – một hình ảnh so sánh thật tự nhiên, giản dị nhưng rất sâu sắc đã tiếp thêm tình yêu nỗi nhớ khôn nguôi của Hoàng Cầm đối với mảnh đất Kinh Bắc. Nỗi nhớ này là điểm xuất phát, sự bùng nổ cho cảm hứng về quê hương Kinh Bắc tuôn chảy dào dạt trong mạch thơ của ông. Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ là một điệp khúc giàu sức gợi hình tượng:

Bèn kia sông Đuống 
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng 
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong 
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Bằng nhữg câu thơ trên, nhà thơ đã khái quát được nét vẽ đẹp nhất, sống động và điển hình nhất bức tranh làng quê Kinh Bắc. Một bức tranh đầy màu sắc, ánh sáng và hương vị. Lời giới thiệu "quê hương ta lúa nếp thơm nồng" hết sức mộc mạc, nó như một nét vẽ bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam gợi dậy bao ám ảnh trong lòng người đọc về một quê hương thanh bình yên ả. Những bức tranh Đông Hồ là hình ảnh đặc trưng của quê hương Kinh Bắc thể hiện được bản sắc văn hóa tinh hoa của con người trên từng nét vẽ. Đó là sự kết tinh vẻ đẹp tài hoa trong cuộc sống tinh thần người Kinh Bắc. Những bức tranh Đông Hồ do những nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm những đề tài quen thuộc phản ánh tâm tư khát vọng trong sáng lãng mạn và không kém phần dí dỏm của người liên doanh: đám cưới chuột, đàn lợn, hứng dừa, đánh ghen… chúng được vẽ trên giấy dó, giấy điệp, vẽ bằng chất liệu cỏ cây, hoa lá, đất cát quê hương. Như vậy nét tươi trong của tranh Đông Hồ không chỉ gợi ra cái tươi tắn trong trẻo mà còn chứa nét đẹp rạng ngời tinh khôi. Chữ "sáng bừng" được dùng khá độc đáo, nó không còn là tính từ mà đã được sử dụng như một động từ không chỉ để chỉ ánh sáng mà còn khẳng định sức sống kỳ diệu của dân tộc. "Màu dân tộc" trở thành một ẩn dụ độc đáo của Hoàng cầm, qua đó thể hiện niềm kiêu hãnh của nhà thơ về bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Bởi quê hương xiết bao yêu dấu, tự hào sống trọn trong trái tim khói lửa, nhà thơ đã diễn tả nồi đau xót căm hờn xen lẫn sự tiếc nuối xót thương với những hình ảnh đầy ấn tượng:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu 
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang 
Mẹ con đàn lợn âm dương 
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã 
Bây giờ tan tác về đâu

Câu thơ đầu giống như câu thơ bản lề làm chuyển đổi mạch cảm xúc của bài thơ. Tác giả gọi những ngày giặc xâm chiến là những ngày "khủng khiếp” cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Nhiều hình ảnh ẩn dụ được sử dụng để gọi tả sự khốc liệt này, hình ảnh “lửa hung tàn” gợi ra sự tàn bạo của kẻ thù đồng thòi là tiếng nói tố cáo phê phán gay gắt chiến tranh. Nếu ở khổ thơ phía trên nhịp thơ đều đặn dàn trải ổn định thì đến khổ thơ này những câu thơ ngôn ngắt nhịp mạnh dồn dập liên tiếp chỉ tội ác chồng chất của kẻ thù cùng với niềm căm thù ngút tròi và nổi đau tột cùng của con người Từ láy "ngùn ngụt" không chi là từ gợi hình chi ngọn lửa mà chính là lòng căm thù của con người bị đốt cháy – những câu thơ của Hoàng cầm rất giàu sắc thái biểu cảm, bao trùm lên không gian là sự hoang tàn, vắng lạnh, xơ xác, không còn cái vẻ thanh bình, cái nét trù phú tươi tắn. Tất cả chi là một cảnh tượng chia li chết chóc. Chữ kiệt cùng được dùng rất hay – không gian càng trở nên sâu thẳm, nỗi đau được biểu hiện tột cùng. Điều đặc biệt là tác giả không miêu tả cụ thể hình ảnh con người nhưng dấu ấn về cuộc sống chia li hoang tàn vẫn được biểu hiện rõ, ông đã mượn hình ảnh nhũng con vật vô tri trong bức tranh Đông Hồ để nói về nỗi đau của con người, đây là một dụng ý nghệ thuật sâu xa của nhà thơ Hoàng Cầm. Đằng sau nỗi đau là hình ảnh quê hương Kinh Bắc với những phong tục tập quán, những hội hè, đình đám, được gợi nhắc lại hết sức sống động:

Ai về Bên kia sông Đuống 
Cho ta gửi tấm the đen 
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên 
Những hội hè đình đám 
Trên núi Thiên Thơi 
Trong chùa Bút Tháp 
Giữa huyện Lang Tài 
Gửi về may áo cho ai 
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu

Ở đây ta bắt gặp một phong tục đẹp đẽ vùng Kinh Bắc. Tấm the đen gửi về may áo. Nó không chỉ là nét vẽ truyền thống mà con là hành động gửi thương gửi nhớ của con người, qua đó thể hiện niềm trân trọng yêu mến sâu sắc của tác giả với con người Kinh Bắc. Các địa danh Thiên Thai, Bút Tháp, Lang Tài được gợi nhắc đã thể hiện niềm kiêu hãnh và tự hào sâu sắc của nhà thơ về vẻ đẹp quê hương mình. Mặt khác các địa danh này lại đi liền với các từ có ý nghĩa định vị về mặt không gian là "trên", "trong", "giữa". Nhà thơ Hoàng cầm đã mở ra trước mắt người đọc một không gian rộng lớn mênh mông, không gian của "mộng bình yên" đẹp đẽ, thơ mộng. Thêm nữa có một nét vẽ cổ điển của âm thanh tiếng chuông chùa văng vẳng lại như điểm nhịp cho cuộc sống yên ả, bình dị của Kinh Bắc. Hình ảnh con người Kinh Bắc được phác họa bằng những câu thơ cụ thể:

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu 
Những cụ già phơ phơ tóc trắng 
Những em sột soạt áo nâu

Chỉ bằng vài nét phác họa, Hoàng cầm đã dựng nên trước mắt người đọc từng bức chân dung cụ thể của con người Kinh Bắc, họ đều rạng ngời với vẻ đẹp truyền thống, những người thiếu nữ, có vẻ đảm đang tháo vát, nhũng cụ già phúc hậu, những em nhỏ ngây thơ tinh nghịch. Rõ ràng ở đây ta thấy niềm yêu mến sâu sắc của tác giả. Những nỗi ám ảnh trong Hoàng cầm sâu sắc nhất có lẽ là hình ảnh người con gái Kinh Bắc. Ông đã dùng những câu thơ đẹp nhất, tài hoa nhất để gợi tả họ:

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen 
Những cô hàng xén răng đen 
Cười như mùa thu tỏa nắng

Chữ "Có nhớ" đặt ở đầu câu thơ là lời gợi nhắc đầy ám ảnh, hình ảnh "khuôn mặt búp sen" gợi tả khuôn mặt người con gái vừa đoan trang, trong trắng, phúc hậu vừa dịu dàng, và đây cũng là nét vẽ điển hình nhất của người con gái Kinh Bắc nói riêng và của người con gái Việt Nam nói chung. Và gắn liền với hình ảnh "cô hàng xén ràng đen”, đây lại là một phong tục tập quán cổ truyền, một nét vẽ truyền thống người con gái Kinh Bắc. Cái hay nhất của đoạn thơ trên là biện pháp tu từ so sánh giữa nụ cười thiếu nữ Kinh Bắc với ánh nắng mùa thu. Dường như ở đây có một sự giao hòa giữa vẻ đẹp con người và vẻ đẹp thiên nhiên đất trời. Nét rạng ngời tươi tắn trong nụ cười cô gái cũng giống với nét rạng ngời tươi tắn của nắng mùa thu chứ không phải cái nắng nóng bỏng gay gắt của mùa hè hay yếu ớt ảm đạm của mùa đông, nắng thu như tỏa trong nó một sức sống mạnh mẽ. Đến đây người đọc như không còn thấy dấu tích của chiến tranh, bởi vậy câu thơ ẩn chứa một niềm tin tưởng lạc quan của con người. Một không gian Kinh Bắc nhộn nhịp, tấp nập được gợi tả qua một loạt những câu thơ tiếp, hình ảnh người người đông đúc trong một không khí tưng bừng náo nức đã khẳng định một sức sống mạnh mẽ của quê hương Kinh Bắc. Tình yêu quê hương Kinh Bắc tràn đầy trong những vần thơ. Trong hoài niệm của Hoàng cầm về con người Kinh Bắc có hình ảnh người mẹ:

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong 
Dăm miếng cau khô 
Mấy lọ phẩm hồng 
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm

Những câu thơ đậm màu sắc tả thực. Từ láy "còm cõi" đã diễn tả rất tinh tế vóc dáng khổ hạnh của người mẹ đồng thời chỉ rõ những vất vả, nhọc nhằn, lo toan mà người mẹ phải chịu đựng, trong lòng người đọc như dâng lên sự cảm thương sâu sắc. Gian hàng của người mẹ chẳng có gì, dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng, vài thếp giấy đã hoen vàng. Các từ "dăm", "vài" là các từ chỉ số nhiều nhưng trong cảm nhận của người đọc, người ta ngỡ như chỉ những thứ hàng hóa ít ỏi, sơ sài của người mẹ, chữ "hoen" được sử dụng rất hay, "hoen" không chỉ là sương thấm vào giấy mà như thấm cả giọt nước mắt, mồ hôi của mẹ. Đi liền với hình ảnh người mẹ là tội ác của kẻ thù:

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn 
Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo 
Xì xồ cướp bóc 
Tan phiên chợ nghèo

Tác giả gọi kẻ thù là "lũ quỷ mắt xanh" – một hình ảnh ẩn dụ chỉ tội ác tàn bạo và dã man của kẻ thù, từ láy "trừng trợn" không chỉ gợi dáng vẻ nạt nộ, dọa dẫm của kẻ thù mà con góp phần lột tả sống động chân dung của kẻ khát máu, quân cướp bóc. Không những thế, chữ "chợt" chỉ gót giày quân xâm lược đột ngột, bất ngờ, không gian thanh bình bỗng chốc bị phá vỡ. Tác giả sử dụng những từ mạnh mang sắc thái biểu cảm cao "khua" "đạp", "xì xồ", "tan", "gầy teo" diễn tả những hành động dã man liên tiếp của kẻ thù những tội ác chồng chất. Hình ảnh con người hàng xóm, quê hương như bị thu hẹp lai dưới gót giày tàn bạo của quân xâm lược. Qua đó ta thấy tội ác kẻ thù càng tăng, niềm căm thù càng trở nên mạnh mẽ, nỗi đau càng trở nên sâu thẳm. Tột cùng nỗi đau thương trong tâm hồn thi sĩ được đúc kết, gửi gắm qua hai câu thơ lục bát đầy xúc động:

Lá đa lác đác trước lều 
Vài ba vét máu loang chiều mùa đông

Không gian hoang sơ hiu quạnh được gọi tả với vài chiếc lá đa thưa thớt, một chiều mùa đông nhuộm đỏ: đỏ của mầu máu, đỏ của ráng chiều. Câu thơ có khả năng gây ấn tượng cực mạnh đối với người đọc. Câu lá đa lác đác trước lều" gợi âm điệu buồn tẻ, rời rạc, điểm nhịp cho không gian vắng vẻ, thưa thớt, hiu quạnh của làng quê Việt Nam trong những ngày tháng kẻ tù xâm lược các từ "vài ba”, loang được sử dụng rất đắt giúp người đọc cảm nhận được từng vết máu đang loang dần, từng chứt từng chút vào cảnh vật cũng như vào con người. Mùa đông vốn ảm đạm, thời gian chiều mùa dông càng khắc sâu thêm sự ảm đạm ấy. Câu thơ đã gọi tả sực khốc liệt của chiến tranh. Những vết máu của chiến tranh thấm đỏ khung trời hay ráng chiều nhuộm đỏ. Tất cả đều gợi sự bi thương tang tóc. Như vậy, hai câu thơ tả ít mà gợi nhiều, nó không chỉ đánh thức người đọc niềm căm thù sôi sục quân xâm lược mà con gợi dậy một nỗi đau khôn cùng. Câu thơ tràn ngập một màu máu và thấm đẫm nỗi khóc thương nhỏ lệ.

Không có cuộc sống gắn bó máu thịt vói quê hương, không tha thiết với vẻ đẹp tinh túy của truyền thống quê hương thì nhà thơ Hoàng cầm có lẽ không thể có những mẫn cảm kỳ diệu như vậy. Đọc những dòng thơ nhà thơ viết về Kinh Bắc, chúng ta lại bồi hồi liên tưởng đến quê hương mình và cảm ơn nhà thơ đã nói đúng phần hồn linh nghiêm nhất của chúng ta mỗi khi trào dâng cảm xúc hoài niệm về quê hương.

Like bài viết để ủng hộ tác giả

Bình luận bài viết

Bài viết liên quan